Thành công của học sinh Việt đánh đố giới khoa học Đức

 

(GDVN) - Ngoài tố chất học sinh và thực tế gia đình quyết định thì cần phải có hệ thống giáo dục thích ứng mới có thể xuất hiện “hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt” .

LTS: Lâu nay, giới khoa học Cộng hòa Liên bang Đức băn khoăn về tỷ lệ thành công của học sinh Việt Nam đang sinh sống tại Đức.

Mặc dù đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu nhưng đến thời điểm hiện tại, họ vẫn chưa tìm ra đâu là lý do chính. 

Trong bài viết này Tiến sỹ Nguyễn Sỹ Phương hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Liên bang Đức chia sẻ một số lý do làm nên “thương hiệu học sinh Việt Nam”. 

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả. 


Theo số liệu thống kê mới nhất từ Cộng hòa liên bang Đức, năm học 2013 - 2014, có tới 64,4%  học sinh Việt theo học trường chuyên Gymnasium (chỉ chiêu sinh những học sinh khá giỏi; sau khi tốt nghiệp sẽ vào thẳng đại học), trong khi chỉ có 47,2% học sinh bản địa học tại ngôi trường này. Con số này gấp 4 lần so với số lượng học sinh Ý, Thổ Nhĩ Kỳ (14%) học tại đây và Việt Nam đứng đầu mọi sắc tộc nhập cư. 

Số liệu cách đây 5 năm tính theo từng tiểu bang, có nhiều tiểu bang mà tỷ lệ học sinh Việt lập kỷ lục chưa từng có từ xưa tới nay như bang Brandenburg tỷ lệ học sinh Việt vào trường chuyên lên tới 75%.

Giải học bổng Hertie-Stiftung, trao cho những học sinh nhập cư học trường chuyên từ lớp 7 đạt điểm khá giỏi, và có nhiều đóng góp hoạt động xã hội, mỗi năm toàn nước Đức có chừng 200 em trong danh sách đó có hơn 20 học sinh người Việt, chiếm tỷ lệ 10/100. 

Trong khi theo thống kê tới ngày 31/12/2015, tổng số người mang quốc tịch Việt ở Đức chỉ ở mức 87.214 người trong tổng số 9.107.893 triệu người quốc tịch nước ngoài, tức chỉ đạt 10/1000. 

Tính ra, tỷ lệ học sinh Việt giành giải gấp 10 lần các sắc tộc khác. Hầu như bất kỳ niên học nào, đều không thiếu tin nóng về gương mặt học sinh Việt đứng đầu các cuộc thi vô địch thành phố, tiểu bang, liên bang, quốc tế. 

Sự kiện học sinh Việt luôn đứng đầu nước Đức trở thành “hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt” làm giới nghiên cứu Đức nhiều năm nay phải “đau đầu” và loay hoay đi tìm lời giải cho câu hỏi: Tại sao có sự khác biệt thành tích học tập giữa con cái các sắc dân? Dựa trên nguyên lý nào? 

Hội nhập giáo dục Việt Nam: Con đường nào để thành công?

 

(GDVN) - Các chuyên gia thừa nhận, để hội nhập quốc tế về giáo dục thì ngoài nguồn lực mạnh, chất lượng lao động tốt, còn phải có kỹ năng và trình độ tiếng Anh.

Công trình lớn gần đây nhất được trường Đại học Chemnitz thực hiện năm vừa qua, khảo cứu 720 mẫu gia đình Đức, Việt và Thổ Nhĩ Kỳ chọn lựa theo nguyên tắc ngẫu nhiên. Từ kết quả thống kê, họ đi tìm luận chứng nhưng tất cả đều mâu thuẫn với kết quả thu được. 

Trước hết, đối chiếu với nguyên lý cổ điển cho rằng nguồn gốc thành công giáo dục bắt nguồn từ mô hình “nền tảng gia đình”. 

Theo mô hình này, gia đình thu nhập càng lớn, quan hệ xã hội càng rộng, cha mẹ học thức càng cao, thì con cái học ở trường càng thành công. Nếu luận điểm này đúng, thì lẽ ra học sinh Việt nói chung phải như học sinh Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng thực tế học sinh Việt giỏi hơn gấp 4 lần nếu căn cứ theo tỷ lệ học sinh vào trường chuyên, gấp 10 lần nếu căn cứ vào giải học bổng Hertie-Stiftung. 

Sau khi nguyên lý “nền tảng gia đình” không được thực chứng, bị loại trừ, các nhà nghiên cứu lại đi tìm lời giải khác thay thế. Họ đưa ra luận đề có thể do “cách thức giáo dục”. Theo đó, gia đình nghiêm khắc, độc đoán trong giáo dục con cái, đồng nghĩa với thành công. 

Nhiều kết quả khảo cứu khác cũng cho thấy giáo dục trong gia đình người Việt nghiêm khắc hơn so với Đức nên con cái họ thành công hơn là tất nhiên. 

Nhưng kết quả công trình khảo cứu từng mẫu gia đình đã không xác chứng luận đề trên, không phải cứ gia đình nào càng nghiêm khắc thì con cái họ càng thành công. Mối quan hệ trên không hề mang tính nhân quả mà chỉ hoàn toàn ngẫu nhiên. 

Ở bình diện xét chung toàn sắc tộc, luận đề trên còn mâu thuẫn, không ít sắc tộc rất nghiêm khắc, thậm chí cực đoan như các sắc tộc theo đạo hồi, kiểu “đặt đâu ngồi đấy”, nhưng kết quả con cái họ còn thua xa học sinh Việt.

Các nhà nghiên cứu lại đi tìm một cách giải thích khác, dựa trên luận đề Nho giáo, đặc thù người Việt. Theo Nho giáo, giá trị con người nằm ở học thức; học giỏi thì cha mẹ được vinh hiển. 

Nhưng luận đề đó cũng bị thực tế bác bỏ. Cả hai nhóm nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam đều đánh giá cao học đường, cho đó là nền tảng để tiến thân, danh phận trong xã hội. 

Nhưng học sinh Thổ Nhĩ Kỳ thành công kém xa học sinh Việt. Ngay cả so với học sinh Trung Quốc vốn được sinh ra từ cội nguồn của Nho giáo, cũng cho kết quả tương tự, học sinh Việt vượt xa.

Thay đổi góc nhìn

Đáng tiếc mọi luận đề các nhà nghiên cứu đưa ra đều không giải đáp thỏa đáng bí ẩn thành công học sinh Việt. Rút cuộc họ đưa ra kết luận bỏ ngỏ giả định, có lẽ các công trình mới tập trung nghiên cứu vai trò cha mẹ, ít đề cập tới chính con cái, và mối quan hệ tương hỗ 2 bên. 

Thay đổi góc nhìn có thể hy vọng giúp tìm được lời giải thoả đáng, như phản ứng nhanh chóng của cha mẹ người Việt trước kết quả học tập của con cái khác với các sắc tộc khác. 

Trong khi cha mẹ người Đức không suy nghĩ gì khi con bị điểm kém 4 (kém nhất là 5), thì một số gia đình Việt đã bắt con học thêm khi mới chỉ được điểm khá 2, chưa đạt được điểm giỏi 1. 

Mặt khác, đối với học sinh Việt, học thức còn do đòi hỏi bắt buộc của hoà nhập. Càng có học thức càng dễ giải quyết khi gặp các tình huống bất thuận khác nhau trong cuộc sống luôn có thể xảy bất cứ lúc nào đối với dân nhập cư. 

Ngoài ra, bằng cấp là vé vào cửa thị trường lao động mà ở Đức điều này rất quan trọng nên người nhập cư hiểu rõ điều này hơn ai hết. 

Về động cơ, họ là những người luôn muốn thăng tiến, kỳ vọng có một cuộc sống tốt đẹp hơn trong nước, nếu không họ đã không rời nước ra đi. Học thức là lá bài duy nhất họ có thể xòe ra. 

Tuy nhiên lý do hòa nhập vẫn bị bác bỏ, bởi nó đúng với mọi sắc dân nhập cư nên không thể dùng để lý giải riêng hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt được. 

Đòi hỏi “con phải hơn hẳn bố mẹ”

Trong khi các nhà khoa học loay hoay tìm kiếm nguyên lý cực kỳ khó khăn, thì hầu hết các bậc cha mẹ Việt xem lý do thành công con cái họ rất đơn giản. 

Cách mấy năm trước, tên một học sinh Việt tên Vũ Kim Hoàn, sinh năm 1994, xuất hiện trên khắp các trang báo Đức khiến chủ đề “hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt ở Đức” lại sôi sục. 

Thanh Mai, lúc 8 tuổi, nhận chứng chỉ vô địch vòng thi chung kết toán lớp 4 toàn tỉnh Unterfranken, Đức, năm 2011 (Ảnh nhân vật cung cấp)

Lúc đó Vũ Kim Hoàn đang học lớp 10 trường chuyên Dresden. Lúc 4 tuổi, Hoàn cùng mẹ và chị gái (hơn Hoàn 7 tuổi) sang Đức đoàn tụ với bố (nguyên là lao động hợp tác thời Đông Đức). 

Không hề biết một từ tiếng Đức, bé Hoàn vào nhà trẻ, suốt ngày chơi với chúng bạn bất đồng ngôn ngữ, chỉ xì xồ, chỉ trỏ; tình cảnh bắt buộc này lại bất ngờ tạo cơ hội cho Hoàn tự động hòa nhập xã hội Đức từ tấm bé.  

Hoàn cảnh Vũ Kim Hoàn có thể lý giải phần nào cho hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt xuất phát từ đòi hỏi hòa nhập, như một thách thức sống còn. 

Kết quả, cả bốn năm tại trường chuyên, Hoàn là thành viên tích cực đa năng của các câu lạc bộ học ngoại khóa. 

Ngay từ lớp 3, Hoàn luôn được bầu làm lớp trưởng. Kết thúc 4 năm học cấp học cơ sở, tổng kết tất cả các môn học đều đạt điểm giỏi 1. 

Trúng tuyển trường chuyên phân ban ngoại ngữ, tới lớp 6, Hoàn tham gia cuộc thi Olympic ngoại ngữ toàn liên bang đoạt giải nhì đồng đội. 

Sang lớp 7, Hoàn học thêm tiếng Ý, rồi từ lớp 8 học tiếp tiếng Tây Ban Nha. Từ lớp 9, Hoàn được bầu làm lớp trưởng, khoá trưởng toàn trường và uỷ viên hội đồng các lớp trưởng, tổ chức nhiều chương trình giúp đỡ học sinh lớp dưới, các buổi hội thảo cho lớp trưởng. 

Giảng dạy tiếng Anh trên thế giới và Việt Nam

 

(GDVN) - Nâng cao trình độ tiếng Anh cho sinh viên Việt Nam là một việc làm quan trọng và cấp thiết cần sự tham gia và ủng hộ của toàn dân.

Sang lớp 10, Hoàn thi viết tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, và tiếng Anh, giành vị trí số 1 trong tổng số 120 thí sinh.

Thời gian đối với Hoàn hiếm quý như vàng, bởi tập trung đầu tư hết cho học tập, hoạt động xã hội. Còn bố mẹ Hoàn thì bươn chải công việc kinh doanh, mải miết từ sáng tới tối, tạo hết mọi điều kiện cuộc sống và thời gian cho Hoàn không phải lo nghĩ gì tới công việc gia đình đã được cha mẹ bảo đảm chỉ với một đòi hỏi: “con phải hơn hẳn bố mẹ“. 

Trở thành “niềm tự hào của trường”

Lý do thành công của Hoàn cũng đúng với trường hợp nữ sinh Trần Vân Anh, sinh năm 1997. Cách đây 7 năm, trong buổi tổng kết chia tay chuyển cấp cho học sinh lớp 6, cô hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở đã không nén được xúc động khi trao chứng chỉ cho Vân Anh: “Em là niềm tự hào của toàn trường. Nhà trường cảm ơn em rất nhiều...”. 

Trong bản nhận xét, đề nghị chuyển cấp em qua trường chuyên, cô giáo chủ nhiệm đánh giá, Vân Anh luôn vui vẻ, hòa nhã, sẵn sàng giúp đỡ, nghị lực lớn, suy nghĩ kết luận logic, trình bày khúc chiết cụ thể. 

Điểm tổng cả 6 năm, tới 12 môn, đều đạt điểm giỏi sát tuyệt đối 1,1-1,2. 
Sáu năm làm cán sự bộ môn, 2 năm cuối làm lớp trưởng.

Vân Anh dẫn đầu lớp, đứng thứ 12 tiểu bang, đứng thứ 57 toàn nước Đức tại cuộc thi Olympia tiếng Anh The Big Challenge 2009 toàn châu Âu.  

Sang cuộc thi Đọc sách tiếng Đức, lớn nhất toàn nước Đức, tổ chức định kỳ hàng năm, thu hút 700.000 học sinh tham gia mỗi năm, do hiệp hội sách tổ chức và Tổng thống Đức bảo trợ, Vân Anh giành giải Nhì toàn khu vực. 

Bố mẹ Vân Anh cũng sang Đức lao động hợp tác từ năm 1988, mở cửa hàng kinh doanh quần áo tại tiểu bang Brandenburg hàng chục năm nay, suốt ngày ngập ngụa công việc, vừa hiếm thời gian, vừa không đủ kiến thức tiếng Đức kèm cặp con.

Nhưng với mong mỏi tột cùng của cả gia đình, “con phải hơn hẳn bố mẹ”, như một “khế ước” ngầm giữa họ đã thúc đẩy Vân Anh trở thành niềm tự hào của nhà trường Đức.

“Nghiện học hơn chơi”

Hiện tượng Thanh Mai ở tiểu bang Beyern gắn liền với tài năng khi mới lên 2 tuổi đã biết ghép vần, làm tính số tới 10. 

Lên 3 tuổi, bé đã học tiếng Anh trong nhà trẻ. Lên 5 tuổi vào lớp 1, với kết quả xuất sắc toàn diện, Thanh Mai được đặc cách bỏ qua lớp 2 nhảy cóc lên lớp 3. Năm nào cũng đứng đầu lớp, liên tục làm lớp trưởng. 

Năm 2011, Thanh Mai 8 tuổi đoạt giải vô địch Olympia vòng thi chung kết toán lớp 4 toàn tỉnh Unterfranken, tiểu bang Bayern vượt qua 24 thí sinh từ 12 thành phố, đạt tổng số điểm 18/20 cao nhất trong mọi kỳ thi vô địch xưa nay.

Cả bốn năm tại trường chuyên, Vũ Kim Hoàn là thành viên tích cực đa năng của các câu lạc bộ học ngoại khóa. (Ảnh nhân vật cung cấp) 

Các vòng loại trước đó, Thanh Mai luôn dẫn đầu, vòng 1 vượt qua hơn 7.800 em của 207 trường tiểu học toàn tỉnh tham gia. Vòng loại 2 vượt qua 80 em đứng đầu của 40 trường tham gia. 

Tới năm 2013, học lớp 5, tại kỳ thi Olympiade toán toàn tỉnh, cùng anh ruột Phạm Nam đoạt giải nhì 27,5/30 điểm, Thanh Mai tiếp tục đoạt giải nhất chung kết với số điểm 28,5/30. 

Tham gia cuộc thi thể thao trí tuệ “Bridge” (một dạng chơi cờ bằng con bài), Thanh Mai đứng thứ 3 thành phố. 

Vào lớp 6, tại kỳ thi Olympiade Toán toàn tỉnh, Thanh Mai đạt điểm tuyệt đối 30/30 còn Nam đạt 29,5/ 30 điểm. Cả Thanh Mai và anh trai đều đoạt giải nhất toán mang tên “Känguru für Mathe”. 

Tại cuộc thi tin học quốc tế, Thanh Mai giành giải nhì, Nam giải ba. Thanh Mai đoạt tiếp hai giải nhất thành phố trong cuộc thi tiếng Anh Big Challenge, và cuộc thi học sinh giỏi tiếng Pháp.

Bố Thanh Mai sang Đức du học năm 1987, rồi làm luận án tiến sĩ, hiện là chủ một công ty sản xuất phần mềm về lĩnh vực tự động hoá, bán ra thị trường thế giới. 

Mẹ Thanh Mai tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế, chuyên tư vấn trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chia sẻ bí quyết, ngoài giờ học trên lớp, các con chỉ làm bài tập về nhà và tìm kiếm các chương trình tự học trên Internet, hoàn toàn không học thêm hay phụ đạo ở đâu. 

Phụ huynh này đưa ra lời khuyên, khi còn nhỏ hãy để chúng làm quen với những chương trình tự học của Vtech, hoặc trên www.toggolino.de, www.physikfuerkids.de, hay www.legakids.net. 

Khi chúng lớn hơn chút, cho chúng đến với những chương trình cao hơn như www.toggo-cleverclub.de, www-de.scoyo.com. Khi đã vào Gymnasium, hãy để chúng xem truyền hình với các chương trình như Kika-Nachrichten, Wissen macht Ah, Pur Plus hoặc Galieo là những chương trình ứng dụng khoa học thực tế rất tốt. 

Bố mẹ không nên kèm cặp, chỉ tác động vào tâm lý giúp chúng luôn có chí tiến thủ, bảo đảm tốt tiền đề vật chất ăn, ở, sức khỏe, cho chúng tập trung vào học hành. 

Cái khó là làm sao kích thích được chúng ham học. Ngay cả ép các con học thêm nếu không kích thích được chúng say mê, thì có khi lại phản tác dụng, làm chúng thêm mệt mỏi. 

Các trường chuyên đều có trang Web riêng cho biết rõ chương trình học tập trong năm. Một khi đã say mê, chúng sẽ hào hứng, cứ theo chương trình đó truy tìm tư liệu trên Google để chuẩn bị trước, nhờ đó cha mẹ không còn phải thúc giục chúng nữa. 

Lúc chúng đã say mê thì cũng như người nghiện rượu, thuốc lá vậy, sẽ “nghiện học hơn chơi”. Hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt bắt nguồn từ những “luận đề” đơn giản như vậy của người mẹ!

“Lò luyện” học sinh tài năng

Ở Đức, học sinh giỏi tham gia thi toán quốc tế khởi đầu từ lớp 7. Bước vào lớp 4, học sinh có thể tham gia thi học sinh giỏi toán cấp tỉnh, diễn ra ba vòng, vòng trường mọi học sinh đều tham gia, vòng loại thành phố, vòng chung kết tỉnh. 

Sang lớp 5, học sinh giỏi được cho tham gia vô số kỳ thi toán mang tên khác nhau cấp thành phố, tỉnh và tiểu bang. Những học sinh đoạt giải nhất lớp 5, lớp 6 cộng thêm kết quả học tập xuất sắc được chọn vào nhóm bồi dưỡng, mang tên “tuổi trẻ luyện toán”. 

Thanh Mai tại buổi trao chứng chỉ vô địch học sinh giỏi toán mang tên Moby Deutschland Olympiade năm 2016 (Ảnh nhân vật cung cấp)

Tài năng Thanh Mai được dịp phát triển qua lò luyện này. Khoá học 2014 - 2015, tiểu bang Bayern chọn 30 học sinh giỏi lớp 6 vào nhóm bồi dưỡng, trong số đó có Thanh Mai, 10 tuổi. 

Khoá bồi dưỡng toán đầu tiên, kéo dài 5 ngày tổng hợp chương trình toán của cả một niên học. Học sinh được kiểm tra trắc nghiệm, học và làm các bài thi. Kết thúc khoá, 18 trong số 30 học giỏi bị loại.

12 học sinh còn lại tiếp tục vào vòng trong, trong đó có Thanh Mai. Số học sinh này bị loại tiếp ở các cuộc thi toán trong năm, còn 11 học sinh giỏi, Thanh Mai vẫn giữ vị trí hàng đầu.

Tương tự, 15 tiểu bang còn lại cũng chọn được từ 5 đến 11 học sinh tùy theo tiểu bang đó nhỏ hay lớn. Kết quả toàn nước Đức chọn được 100 em học sinh giỏi toán nhất, đưa vào chương trình bồi dưỡng năng khiếu từ xa theo các chuyên đề. 

Mỗi năm các em nhận được 6 chuyên đề vào các tháng 4, 5, 6,7, 9 và 10. Cứ 10 học sinh có một giáo viên phụ trách. Các em tự giải bài từng chuyên đề và được chấm điểm.

Kết quả, từ tháng 4 -10 năm ngoái, Thanh Mai đạt được tổng số điểm hầu hết tuyệt đối. 

Những học sinh đạt điểm khá giỏi từ 6 chuyên đề, ở tiểu bang Bayern được mời tham gia khoá bồi dưỡng toán dành cho học sinh trình độ lớp 8. Kết thúc, 8 em có điểm số cao nhất được chọn vào đội tuyển quốc gia, trong đó có Thanh Mai, 11 tuổi.

Với cách chọn trên, trong 100 em được tuyển chọn từ năm lớp 7 của 16 tiểu bang, có 30 em tiếp tục bị loại. Cứ loại lần lượt như vậy đến lớp 10 sẽ chỉ con 30 em học sinh giỏi nhất toàn liên bang được giữ lại đội tuyển tham gia các kỳ thi giải quốc tế.

Năm nay bước sang tuổi 12, Thanh Mai đoạt chức vô địch bộ môn toán toàn tiểu bang Bayern, đứng thứ hai kỳ thì vật lý toàn Liên bang. 

Tháng trước được chọn tham gia kỳ thi học sinh giỏi toán mang tên Moby Deutschland Olympiade tại Passau và kỳ thi vô địch toán toàn Liên bang khối lớp 9 năm nay. 

Hiện Thanh Mai được nhà trường chọn gửi vào Đại học Tổng hợp Würzburg học chương trình bồi dưỡng dành cho “Tài năng toán học trẻ từ lớp 9”.

Bồi dưỡng tinh thần đồng đội 

Học sinh năng khiếu ở Đức, ngoài khuyến khích tham gia thi học sinh giỏi nhằm bồi dưỡng tài năng cá nhân, còn được khuyến khích bồi dưỡng cả tinh thần đồng đội, làm việc tập thể.

Giải thưởng lập trình trò chơi người máy (Robotikerfolge bei der First Lego League - FLL) được tổ chức hàng năm ở Đức nằm trong triết lý giáo dục trên. 

Các trường tham gia thi đấu chọn đội tuyển tương tự như thi học sinh giỏi. Các đội được giao nhiệm vụ phải giải quyết những đề tài cụ thể từng năm. đề thi năm nay là “Con đường giải quyết vấn nạn rác thải”, bằng cách tái chế thành phân bón.

Đại học quốc tế Tokyo trong mắt học trò Việt

 

(GDVN) - Tôi thấy Đại học quốc tế Tokyo là một ngôi trường tốt cả về học tập lẫn các hoạt động ngoại khoá. Do đó, tôi đã chọn trường là nơi theo học 4 năm sinh viên.

Đội thi đấu “Robot Force 1” của trường chuyên DHG, nơi Phạm Nam (anh trai Thanh Mai)  theo học, có 8 học sinh tài năng tuyển chọn từ lớp 8 đến lớp 10, chia thành 2 nhóm.

Nhóm lắp ráp có 6 em. Nhóm lập trình vốn đóng vai trò hoạch định quyết định thắng thua có 2 em. 

Phạm Nam lớp 8 là một trong 2 em đó. Nam lập trình phần Robotik đi gom đồ phế thải, bạn kia lập trình Robotik chuyển chúng đến địa điểm đã định và bốc dỡ.

Chương trình sau khi lập được nhóm lắp ráp đưa vào người máy thực hiện. Chúng có nhiệm vụ thu gom, phân chia, xử lý rác thải và chuyên chở phân bón được chế biến từ rác thải đến những địa điểm nhất định. 

Kết quả trường DHG của Phạm Nam giành cúp vô địch lập trình cho người máy thể loại “trò chơi người máy Robot Force 1” và đứng thứ hai thể loại trò chơi người máy “Robot Force 2” niên khóa 2015 - 2016.

Rõ ràng, khái niệm “giáo dục” được định nghĩa là sự tác động qua lại giữa thầy và trò trong một môi trường xã hội, kinh tế, gia đình, nhất định.

Hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt mới xuất hiện ở Đức và Mỹ, chưa xảy ra trong nước hay bình diện thế giới, thực ra không nằm ngoài nguyên lý trên. 

Ngoài tố chất học sinh và thực tế gia đình họ quyết định, phải có hệ thống giáo dục thích ứng vốn đóng vai trò nền tảng trực tiếp, tức điều kiện cần, nếu không những tài năng như Kim Hoàn, Vân Anh, Phạm Nam, Thanh Mai sẽ cũng chỉ nằm trong tiềm năng; không thể xuất hiện “hiện tượng kỳ lạ học sinh Việt”!

Tiến sỹ Nguyễn Sỹ Phương

Tại sao học sinh Việt Nam ở Đức thành công?

Một tờ báo của Đức vừa có bài phân tích chuyện học sinh từ các gia đình Việt Nam đạt thành tích học tập tốt nhất ở các trường phổ thông Đức. Dưới đây là bài điểm báo với tựa đề "Lúc ở nhà mẹ (cũng) là cô giáo" hay là về nguyên nhân thành công của học sinh Việt Nam tại Đức" của tác giả Trương Hồng Quang, hiện đang sống tại Berlin.

Cách đây năm năm, khi Thilo Sarazin, nguyên Bộ trưởng Tài chính bang Berlin (Đảng SPD), lúc đó là thành viên Ban Giám đốc Ngân hàng Liên bang Đức, đưa ra so sánh giữa thành công của học sinh Việt Nam ở Đức và kết quả học tập kém khả quan của học sinh có nguồn gốc xuất thân từ Thổ Nhĩ Kỳ, tuần báo “DIE ZEIT” (Thời đại) là một trong những cơ quan truyền thông lên án gay gắt nhất thái độ phân biệt chủng tộc được thể hiện qua“trò chia rẽ giữa người nhập cư tốt và người nhập cư xấu”của tác giả này.

Thật đáng ngạc nhiên là cũng chính tờ “DIE ZEIT” trong số ra ngày hôm qua (11.06.2015) lại có hẳn bài khẳng định rằng “học sinh từ các gia đình Việt Nam đạt thành tích học tập tốt nhất ở các trường phổ thông Đức, còn học sinh gốc Thổ Nhĩ Kỳ thuộc nhóm có kết quả tồi tệ nhất”.

Đây là bài kết thúc của một chuyên đề gồm ba kỳ về chủ đề năng khiếu/tríthông minh. Kỳ thứ nhất (28.05.2015) bàn về vai trò của giáo dục gia đình, đặcbiệt ở giai đoạn trước khi nhập học phổ thông. Kỳ thứ hai (03.06.2015) nói về quan hệ giữa di truyền và trí thông minh. Kỳ cuối cùng bàn về ảnh hưởng của vănhoá đối với giáo dục, cụ thể trên nghiên cứu trường hợp (case study) học sinh có nguồn gốc Việt Nam ở Đức, mà câu hỏi định hướng đã được đặt ra ở kỳ mở đầu, in ngay trên trang nhất của số báo đó: “Tại sao trẻ em Việt Nam lại học giỏi hơn trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ?”

Trong khuôn khổ một bài điểm báo, tôi sẽ không thể đi sâu vào các nội dung ở hai kỳ trước, mà chỉ giới hạn vàoviệc tóm lược một số luận điểm căn bản nhất của “nghiên cứu trường hợp” ở kỳ ba, mà vì những lý do hiển nhiên, sẽ được người đọc tiếng Việt quan tâm hơn cả.

Nguồn/Quelle: Die Zeit, Nr. 24, 11.06.2015, trang 33

Biểu đồ thứ nhất (ở trên) với tiêu đề “Người Việt Nam chăm chỉ” nêu con số thống kê toàn quốc ở Đức năm 2013 về tỷ lệ học sinh tham gia hệ tú tài (Gymnasium) trên từng nhóm dân cư, trong đó ở nhóm “không có nguồn gốc nhập cư” là 35,8 %, ở nhóm “có nguồn gốc nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ” là 18,3 % và ở nhóm “có nguồn gốc nhập cư Việt Nam” là 58,0 %.

Biểu đồ thứ hai (ở dưới) với tiêu đề “Học là ưu tiên hàng đầu” so sánh trình tự ưu tiên của sinh viên Đức và sinh viên Việt Nam cho các lĩnh vực học tập, gia đình, người yêu và thời gian rỗi (từ trái sang phải), mà xu hướng rõ ràng là sinh viên Việt Nam trước hết coi trọng việc học và gia đình, trong lúc đó sinh viên Đức lại dành ưu tiên hàng đầu cho người yêu và thời gian rỗi. Tuy nhiên, bài báo không nói rõ nhóm sinh viên Việt Nam được điều tra dư luận ở đây là sinh viên Việt Nam ở trong nước hay sinh viên Việt Nam ở Đức.

Trước đây mấy năm Andreas Helmke –cùng với vợ ông, nhà nghiên cứu giáo dục gốc Việt Tuyết Helmke – đã tiến hành một nghiên cứu so sánh về năng lực học toán của học sinh bậc tiểu học ở Hà Nội và München. Trong bài phỏng vấn công bố ngày hôm qua, Helmke cho biết là trẻ em Hà Nội có khả năng làm toán vượt trội („haushoch überlegen“) so với trẻ em cùng lứa tuổi ở München, cho dù điều kiện học ở Việt Nam rất khó khăn, ví dụ thầy cô giáo ở đó thường phải đứng trước lớp có tới năm mươi học sinh. Có một khía cạnh mà Helmke nhấn mạnh là ngay ở những bài tập đòi hỏi sâu hơn về tư duy toán, học sinh ở Hà Nội vẫn đạt những kết quả tốt hơn so với học sinh München. Đây là một bằng chứng theo Helmke phủ nhận lại định kiến cho rằng ở châu Á chỉ thiên về "học gạo". Thành tích về môn toán của trẻ em gốc Việt ở Đức cũng hoàn toàn tương xứng khả năng học toán của trẻ em Việt Nam ở trong nước, Helmke khẳng định rằng học sinh Việt Nam ở Đức thuộc nhóm học sinh có kết quả học toán tốt nhất. Trả lời câu hỏi của ký giả liệu có phải người Việt có một thứ "gien toán" đặc biệt, Helmke cho rằng có một nguyên nhân văn hoá: Ở Việt Nam toán là môn học tối thượng („Königsfach“), ai giỏi toán người ấy giành được sự vị nể cao nhất, ở đó không thể có ai tỏ ra kiểu cách theo lối cho hay rằng mình là người mít đặc về toán, như người ta vẫn bắt gặp ở Đức.

Bên cạnh các kết quả vượt trội tron gmôn toán, học sinh Việt Nam còn dành được điểm số cao hơn cả học sinh Đức ở môn… tiếng Đức, ít nhất là theo thông tin của ký giả Spiewak. Không đi sâu vào việc lý giải hiện tượng này, Helmke lưu ý đến nghịch lý rằng ở nhiều gia đình nhập cư Việt Nam bố mẹ không nói tiếng Đức, mà nói tiếng Việt với con cái, trong lúc theo mô hình hội nhập thành công được công nhận rộng rãi thì phụ huynh ở các gia đình nhập cư cần nói tiếng Đức ở nhà với con. Dẫn kết quả của hai đồng nghiệp là Nauck và Gogolin trong một nghiên cứu nghiên cứu so sánh giữa hơn 1.500 bà mẹ gốc Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và Đức, Helmke cho biết các điều kiện bề ngoài giữa hai nhóm nhập cư Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ khá giống nhau: thu nhập bình quân thấp, nói tiếng Đức kém, chỉ có ít sách ở nhà. Tuy nhiên trên thực tế, tỷ lệ trẻ em gốc Việt theo học hệ tú tài lại cao hơn gấp đôi so với trẻ em gốc Thổ Nhĩ Kỳ.

Khác với cách lý giải phổ biến (chẳng hạn ở Thilo Sarrazintrước đây) cho rằng nguyên nhân nằm ở thái độ khước từ hội nhập của các gia đình Hồi giáo, Helmke cho rằng các bậc phụ huynh Thổ Nhĩ Kỳ – cũng như ở các nhóm cư dân nhập cư khác – rất coi trọng việc học hành của con cái.

Điểm khác nhau căn bản trong quan niệm giáo dục và cách hành xử giữa các bậc phụ huynh Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam mới đây được đề cập trong một công trình của AladinEl-Mafaalani.

Nhà nghiên cứu này đã tiến hành phỏng vấn hai nhóm phụ huynh nói trên và đi đến kết quả: Các bậc bố mẹ Thổ căn bản phó thác cho nhà trường, đối với họ thầy cô giáo là các chuyên gia có trách nhiệm dạy và giáo dục con mình; các bậc bố mẹ Việt ngược lại cho rằng mình có cùng trách nhiệm trong thành công học tập của con cái, họ coi mình là người đồng-giảng dạy, đồng-huấn luyện viên và nhìn nhận vị trí của thầy, cô giáo nhiều hơn ở vai trò của người trọng tài.

Ở chỗ này Helmke đưa ra một ví dụ minh hoạ khá bất ngờ ngay cả với người trongcuộc: Một bài hát Việt Nam - rất nổi tiếng mà tất cả người Việt Nam đều biết - kể cả ở Đức“, trong đó có câu "Zu Hause ist Mutter eine Lehrerin", dịch ngược ra tiếng Việt: "Lúc ở nhà mẹ là cô giáo“.

Lúc ở nhà mẹ là cô giáo“ (Ảnh chỉcó tính chất minh hoạ!)
Lúc ở nhà mẹ là cô giáo“ (Ảnh chỉcó tính chất minh hoạ!)

Liên quan đến chủ đề chung của loạt bài là năng khiếu/trí thông minh, trong bài phỏng vấn Spielwak cũng đặt ra câu hỏi về vai trò của năng khiếu trong văn hoá Việt Nam.

Helmke cho rằng đây là một điểm hết sức trọng yếu. Các bậc phụ huynh Đức và cả Thổ Nhĩ Kỳ thường quy học lực kém của con cái vào nguyên nhân thiếu năng khiếu. Ở người Việt – cũng như đối với người Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản – có một quan niệm hoàn toàn khác, như các kết quả nghiên cứu so sánh văn hoá của các nhà nghiên cứu Mỹ Stevenson và Stigler đã chỉ ra cách đây hơn hai mươi năm. Theo đó trong các nền văn hoá giáo dục (Đông) Á, năng khiếu chỉ đóng một vai trò thứ yếu cho thành công trong học tập, và bất cứ ai cũng có thể thành công nếu đủ nỗ lực. Mặt trái của truyền thống này là những học sinh ít năng khiếu và phụ huynh của họ sẽ khó có thể biện hộ sự thất bại trong học tập bởi lý do này.

Helmke cũng lưu ý đến những tương đồng giữa thành công của học sinh Việt Nam ở Đức và thành công học tập nói chung của Asian Americans (người Mỹ gốc Á) ở Hoa Kỳ hay ở Canada. Mẫu số văn hoá của các hiện tượng này chính là di sản Nho giáo trước sau vẫn chi phối sâu sắc tư duy của người Việt – cũng như người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore – bất luận họ đang sống ở đâu, ở Việt Nam, ở Hoa Kỳ hay ở Đức. Trong truyền thống tư duy này, không chỉ học vấn đóng một vai trò then chốt, mà cả thái độ kính trọng trước người lớn tuổi, đặc biệt đối với bố mẹ và thầy cô giáo và nghĩa vụ hoàn thành chữ hiếu bằng cách mang điểm tốt về nhà.

Luận điểm về vai trò giá trị của Nho giáo đương nhiên không có gì mới. Điều đáng suy nghĩ ở đây là nhận xét của Helmke rằng thành công của học sinh Việt Nam dường như sẽ được đảm bảo tốt nhất chừng nào mà gia đình của họ vẫn còn duy trì được nền văn hoá xuất xứ...

Nhận xét này hoàn toàn tương ứng với một kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác mà tôi đã có dịp lược thuật trước đây: Theo Olaf Beuchling, một nhà nghiên cứu giáo dục ở Hamburg đã theo dõi kết quả học tập của học sinh Việt Nam từ hơn 15 năm nay, không thể đưa ví dụ của học sinh Việt Nam để làm mẫu mực cho các nhóm nhập cư khác. Chính sách hội nhập của Đức nhắm tới đối tượng chủ yếu là trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ và xuất phát từ hình dung rằng hội nhập càng tốt thì thành công trong giáo dục càng cao. Kết quả khảo sát của Beuchling cho thấy có một quy trình diễn ra ngược lại đối với người Việt: càng thích ứng với văn hoá Đức, thành công của học sinh Việt Nam lại càng giảm sút. Theo ông, “người Việt ở thế hệ thứ hai và thứ ba ở Đức đã đánh mất một phần chuẩn mực ứng xử của Nho giáo” và kết quả nhãn tiền là: kết quả học tập của họ đi xuống – giống như các học sinh Đức.

Theo Trương Hồng Quang
Vietnamnet